CHẢY NƯỚC MẮT DO CAN THẬN HƯ HÀN
(Trích trong ‘ Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Của Người Thợ Già Trị Bệnh’ của Lê Đức Thiếp Việt Nam).
ông Vũ Bá H, 50 tuổi, hai tròng trắng tinh, không đỏ, không sưng nhức gì cả, cứ chảy nước mắt sống (mắt, không nĩng), rịng rịng cả ngày, mỗi ngày phải dùng 5 -7 khăn nhỏ để thấm ướt đẫm, nhiều khi nước mắt cịn chảy xuống giấy tờ trên bàn làm việc, bệnh đã ba tháng. Mạch hai bộ xích Trầm và không lực, mạchtả quan Huyền và Trì. Đã được khám theo YHHĐ và được kết luận phải mổ, nhưng mổ vẫn chưa chắc đã khỏi hẳn. Vì sợ mổ nên tìm thuốc YHCTuống.
Dựa vào mạch, tôi chẩn đốn là Can Thận hư hàn, cho dùng bài Lý Âm Tiễn (Xuyên quy 20g, Thục địa 40g, Hắc khưông 8g, Cam thảo 4g, Phụ tử 8g), thêm Ngũ vị tử 12 hạt (1g), Ngưu tất 4g, Xa tiềntử 6g). Uống 3 thang, bệnh bớt 7/10, uống thêm 3 thang nữa, khỏi hẳn.
GIÁC MẠC LOÉT
(Trích trong ‘ Tạp Chí Đông Y’ số 58, Việt Nam).
Hồng Trạch T, 30 tuổi, mắt bên phải đau đã 2 tháng, ở bệnh viện khu tự trị Đã chích 3 lọ Peniciline, không bớt, mắt bên phải đau nhức, nước tiểu vàng.
YHHĐ: Giác mạc trung tâm bị loét.
YHCT: Phong nhiệt xâm nhập phong luân.
Điều trị: Khu phong, thanh nhiệt.
Xử phương: Sinh địa 16g, Chi tử 12g, Tiền hồ 12g, Trùng thối 8g, Hồng cầm8g, Thạch cao 32g, Liên kiều 12g. Sắc uống.
Sau 6 tháng, hết loét. Dùng bài Lục Vị (Đơn bì, Hồi sơn, Sơn thù, Phục linh, Thục địa, Trạch tả) uống thêm 4 thang để củng cố kết qủa.
MẮT MỜ DO ÂM HUYẾT HƯ HÀN
(Trích trong ‘ Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Của Người Thợ Già Trị Bệnh’ của Lê Đức Thiếp Việt Nam).
Huỳnh thị H, 30 tuổi, thợ may, độc thân. Gần tết, nhận đồ may quá nhiều, phải thức sáng đêm may cho kịp hàng cho thân chủ, sau đó bị mệt nhồi, mắt mờ không đọc được báo. Đã uống 1 ít thang thuốc của thầy thuốc ở gần nhà nhưng không thấy bớt. Khám thấy tròng trắng ở 2 mắt trắng tươi, tròng đen đen nhánh, hai đồng tử tinh nhanh như thường. Bệnh đã 3 tuần, mạch 2 bộ xích Trầm, Vi, không có lực.
Chấn đốn: Can Thận hư hàn.
Xử phương: Phụ Tứ Lý Âm Tiễn: Xuyên quy 12g, Hắc khương 8g, Thục địa 12g, Cam thảo 4g, Phụ tử 8g.
Sắc uống 2 thang. Khám lại, mắt đã đọc được báo, mạch hai bộ xích đã hơi có lực. Cho uống tiếp hai thang thì bệnh khỏi.
Khi trở lại tái khám, người bệnh cho biết: "hôm đầu con cầm thuốc về, mẹ con cũng biết ít về thuốc, bà mở thuốc ra xem và lựa bỏ những miếng thuốc đen đem ra bỏ đi (con không biết đó là vị thuốc gì). Mẹ con nói: " Bệnh mắt mà ông ấy cho mày uống thứ này để mày mau mù à, lựa hết ra”. Con liền đáp: "Thầy đã cam đoan với con là thuốc này thế nào cũng khỏi rất nhanh. Xin mẹ cứ để nguyên cả cho con uống. Thật ra con uống lần đầu cũng hơi ngờ ngợ, nhưng rồi không thấy sao, khi uống hết lại thấy mắt sáng ra. Con mừng quá, cứ đem báo ra đọc thử hồi hồi. Bấy giờ mẹ con cũng mừng quá. Mẹ con bảo: "Lạ nhỉ, bệnh mắt mà uống Can khương, Phụ tử mà khỏi, nay tao mới thấy!
Nếu hỏi rằng tôi căn cứ vào đâu mà dám mạnh dạn cho bệnh mắt này uống Khương, Phụ thì xin thưa là tôi chỉ căn cứ vào mạch 2 bộ xích Trầm, Vi, không có lực mà quyết đốn là 'Can Thận hư hàn’ và cho uống Khương, Phụ chứ không nghi ngờ gì cả".
XUẤT HUYẾT Ở THỦY TINH DỊCH (Can Phong Nhiệt).
(Trích trong ‘ Tâm Đắc Và Nghiệm Án’ của Đào Viết Hà, Việt Nam).
Một em bé 14 tuổi, ở mắt bên trái, nhãn cầu đỏ và sưng, mi mắt sưng, đồng tử nở lớn, nước mắt chảy ra, chỉ thấy được khoảng 20 cm (1 gang tay), mạch Phù Sác.
Bệnh viện Hà Bắc chẩn đốn là Xuất huyết ở thủy tinh dịch. Tôi cho là do phong nhiệt nhiều làm cho Can huyết nóng, mắt bị sung huyết gây nên đỏ, nhãn cầu sưng và đồng tử mở rộng.
Điều trị: Thanh tán phong nhiệt, làm mát và dưỡng Can huyết.
Xủ phương: Châm cứu + dùng thuốc.
+ Châm các huyệt: Tồn trúc, Ty trúc không, Đồng tử liêu, Thái dưông, Thái xung đều tả; bổ Tam âm giao. Mỗi ngày châm 1 lần, liên tục 3 ngày.
+ Thuốc: Cỏ mực 40g, Thảo quyết minh 30g, Rau má 40g, Hoa và lá Mã đề 2g, Hoa Cúc 15g, Bạc hà 15 lá, Gừng tươi 2 lát. Sắc uống ngày 1 thang.
Sau 3 ngày điều trị, mắt gần hết sưng đỏ, nhìn ra sân đã hơi rõ. Tiếp tục uống như trên 10 ngày liền, mắt hết sưng đỏ, nhãn cầu hết sưng, đồng tử thu nhỏ lại, nhìn ra ngồi thấy rõ lại như thường.
THUỶ TINH CÓ VẬT CHƠI VƠI
(Trích trong ‘ Tạp Chí Đông Y’ số 96, Việt Nam).
Nguyễn Thị M…32 tuổi. Mắt có cảm giác như ruồi bay, nhìn không rõ.
Khám chuyên khoa:
MP, đếm ngón tay: 0, 50m.
MT, đếm ngón tay: 1, 00m.
Bán phần trước bình thường.
Soi ánh đồng tử: có từng vật đen lượn đi lượn lại mỗi khi người bệnh đảo mắt. Đáy mắt xem không rõ. Tổng trạng cơ thể, răng hàm mặt, tai mũi họng và xét nghiệm máu đều bình thường.
Chần đốn theo YHHĐ: Thủy tinh thể có vật chơi vơi.
Chẩn đốn theo YHCT: Can hỏa thượng xung do Thận thủy suy.
Xủ phưông: Chè vằng 60g, Ngấy hưông 30g, Hồng bá 8g, Lai quy8g, Hồng cầm 8g, Chi tử 8g, Sinh địa8g Bồ cu vẽ 20g, Kinh giới 8g. Mỗi ngày uống 1 thang.
Sau khi uống, thuốc: đếm ngón tay - 2, 00m.
MT M P
1 tháng: 1/ 101 / 10
2- 3/ 102/ 10
3- 5/ 103/ 10
4- 8/ 105/ 10
5- 8/ 105 / 10
6- 10/ 108/ 10
Khám lại: Vật chơi vơi chỉ còn những hạt li ti.
THÓAI HÓA ĐIỂM VÀNG (Can Thận Âm Hư)
(Trích trong ‘ Tạp Chí Đông Y’ số 124, Việt Nam).
Võ Thị.. ., 30 tuổi. Sau một đợt đau thần kinh tọa, mọi kích thích đều làm cho người bệnh giật mình, mắt ngày càng mờ dần, không đọc được thư từ và không may vá được, nhìn hình ảnh và vật không rõ nét. Thị lực: MP 1/10, MT 4/ l0.
Chẩn đốn: Bệnh viện Nghĩa Đàn khám và kết luận là thối hĩa điểm vàng, YHCT cho là Thận Can âm hư.
Điều trị: Tư Thận, thanh Can, thanh Tâm, làm sáng mắt.
Xử phương: Thục địa 12g (tưThận), Chi tử 8g, Hồng cầm 8g, Kỷ tử 10g (để thanh Can), Đại táo 3 quả, Long nhãn 8g, Viễn chí 8g(để thanh Tâm ), Thảo quyết minh 10g, Cúc hoa 12g, Hồng cầm 8g, Thưông truật 8g, Thuyền thối 4g, (để làm sáng mắt). Uống liên tục 50 thang. Kết quả khi ra viện: MP 7/ 10, MT 10/ 10.
MẮT ĐAU có MÀNG
(Trích trong ‘Tạp Chí Đông Y" số 115/1971, Việt Nam).
Hà Thị B, 35 tuổi, đi đắp bờ vùng, bị đất bùn bắn vào mắt không mở được, ở trạm y tế xã cho rửa mắt và nhỏ thuốc, nhưng đêm hôm đó không đõ, mắt cứ gặm, chĩi, nhức đầu, không ngủ được, mắt sưng to, điều trị trong 3 ngày mắt vẫn sưng, nhức nhối khó chịu, chuyển qua chữa Đông y. Khám thấy người bình thường, mắt bên phải sưng đỏnhiều, không mở được, chỉ nhức, trong mắt không có màng, mắt bên trái hai mí đều sưng to, có tụ máu, sờ thấy cứng, trong mắt có màng phủ, lòng trắng sưng, lòng đen có màng trắng che kín, đồng tử trông giống như cùi nhãn, có dử, nước mắt nhiều.
Mắt bên phải trông thấy lờ mờ, mắt bên trái, giơ ngón tay không trông rõ, đau nhức từng cơn, ngồi ôm mắt. Tiếng nói to và nặng, thích ăn thứ mát. Từ khi bị đau mắt thì ngủ ít, miệng đắng, đầu thường bị bốc nóng lên bừng bừng, tai ù, tai đau, trong mắt rát, chị không chịu được, do đó phải kêu khóc, sợ mắt bị hỏng. Mạch 6 bộ đều Huyền Sác và đới Khẩn.
Chẩn đốn: Do nhiễn khuẩn (do đất bùn bắn vào mắt), cộng thêm bản thân vốn nhiệt, động hỏa sinh phong.
Điều trị: Dùng thuốc nước rửa để khử độc, tiêu viêm ở mắt, kết hợp uống thuốc hạ hỏa, tiêu viêm lương huyết.
Thuốc rửa:
Hồng đằng 20g, Long đởm 15g, Bạch phàn 5g.
Nấu thành nước lỗng, lọc kỹ, ngày rửa 3 - 4 lần, liên tục mấy ngày.
- Thuốc uống: Sinh địa l2g, Sơn chi 10g, Thạch hộc 12g, Hồng cầm10g, Huyền sâm 12g, Quy vĩ8g. Các vị trên để hạ hỏa, tiêu viêm và lương huyết.
Cốc tinh thảo 10g, Trùng thối 5g, để tiêu màng mộng.
Phịng phong 5g, Khưông họat 5g, Kinh giới 5g, để khứ phong giảm đau.
Bạch chỉ 5g, Cam thảo 5g, Đại táo2 quả để điều hịa thuốc.
Sắc uống.
Châm thêm các huyệt Thái dưông, Ty trúc không, Tồn trúc, Tinh minh, Hợp cốc, Tam âm giao, Hành gian, Quang minh. Châm bình bổ và tả.
Uống 12 thang thuốc và 6 lần châm thì khỏi. Mắt cịn mờ, cho uống Lục Vị thêm Quy, Thược, Cúc hoa, Kỷ tử. Bệnh bình phục.
MẮT SƯNG ĐAU ĐỎ
(Trích trong ‘Tạp Chí Đông Y’ số 74, Việt Nam).
Nguyễn Thị V.., 46 tuổi. Đi làm ngoài đồng về, thấy đau nhức đầu, tai ù, mắt buốt, chóng mặt.. rồi sinh ra mắt giật, sưng đau, đỏ, buốt, chị không mở mắt được, lại phải nhờ người dắt.
Trước đó 2 năm đã đau một lần, điều trị tại bệnh viện Hà Nội, sau đó hỏng một mắt. Đến tháng 9 lại đau, chữa ở bệnh viện Hải Dương không khỏi, sau chữa ở tập đồn Kiến An 3 tháng mới khỏi. Nay lại bị đau nhưng lần này đau nặng qúa không nhìn thấy tị gì.
Khám: Người béo đen, 2 mắt sưng, tròng trắng đỏ như máu, trong mắt có cảm giác lờ mờ như màng khói, nhìn như trứng con tằm, tiếng nói khoẻ, hơi thở mạnh, thường không ngủ được, đại tiện táo bĩn, 3 – 4 ngày mới đi 1 lần. Mạch hữu xích Thực, tả xích Hồng, Hoạt.
Chẩn đốn: Âm thủy suy, Tâm Can hỏa thịnh gây đau.
Xử phưông: Tứ Vật (Khung, Quy, Thục, Thược), tăng Bạch thược, thêm Huyền sâm, Hồng bá, Phịng phong, Khưông hoạt, Chi tử, Đại hồng.
Uống 3 thang, mắt đỡ buốt. Uống tiếp bài trên. Sau 4 ngày, đi ngồi dễ (nhuận), đầu đỡ buốt và ù. Uống tiếp bài trên, bỏ Đại hồng. Ngày thứ 5 mắt đỡ nhiều, uống bài trên, thêm Cúc hoa, Cam thảo, Chi tử, Tật lê, Dạ minh sa, Thanh tưông tử.
Ngày thứ 6, đỡ nhiều hơn trước, dùng Lục Vị, bỏ Sơn thù, thêm Bạch thược, Bạch tật lê, Thanh tương tử, Dạ minh sa, tăng Đơn bì và Ngưu tất.
Uống liên tục 2 tuầnthì khỏi hẳn.
MẮT SƯNG ĐAU không NHẮM MỞ ĐƯỢC
(Trích trong ‘Châm Cứu Bách Bệnh Thực DụngNghiệm Phưông ’ của Thẩm Tá Đình).
Hồng Lục Lập, 11 tuổi. Hai mắt sưng đau không nhắm mở được, tròng mắt có gân máu, mắt bên trái nặng hơn. Bệnh đã hơn một tháng, dùng nhiều thuốc mà không có kết quả.
Châm tả huyệt Tinh minh, Tồn trúc, Ngư yêu, Thượng tinh, Hợp cốc. Châm ra máu Ty trúc không, Nhĩ tiêm, Ẩn bạch, Lệ đồi.
Kết quả: Mắt thấy nhẹ hơn, mở mắt được.
Châm lần thứ hai: giống như trên, hết nhức.
Lần thứ ba, tư cũng châm như trên. Kết quả: tròng trắng bớt gân máu, mắt hơi thấy được.
Trị lần thứ năm như trên. Kết quả gân máu tan nhiều, hai mắt hết nhức, ngày hôm sau thấy rõ hơn.
Châm lần thứ sáu cũng như trên, mắt mở to được.
Lần thứ bẩy cũng giống như trên. Kết quả: Mắt mở thấy ánh sáng, mắt bên trái chưa thấy rõ.
Châm lần thứ tám, chín cũng như trên. Mắt nhẹ nhiều, mắt bên phải thấy rõ hơn nhưng bên trái chưa thấy rõ lắm.
Lần thứ mười, mười một: giống trên nhưng không dùng huyệt Ẩn bạch và Lệ đồi nữa.
Kết quả: bệnh khỏi hẳn.
MẮT MỜ KHÔNG NHÌN THẤY
(Trích trong ‘Helping YourselfWith Foot Reflexology’ của Mildred Carter).
ông Sade, 45 tuổi. ông tỏ vẻ thất vọng khi gặp tôi. Người ta cho ông biết là đơi mắt của ông không thể trị được và khuyên ông không nên đọc sách báo nữa để giữ cho đơi mắt đỡ mỏi mệt, còn nhìn được thêm ngày nào hay ngày đó. Khi ấn vào các điểm ở dưới lòng bàn chân, tôi nhận thấy ông chỉ thấy cảm giác đau ở đoạn dưới ngón chân thứ hai và ba, chỗ ngón chân tiếp giáp với bàn chân. Tay trái của tôi nắm chặt bàn chân ông, còn ngón cái của bàn tay phải bấm sâu vào gan bàn chân, đi dần từgốc ngón chân cái về phái giữa hai ngón chân thứ hai và ba. Tôi bấm như thế cho ông mấy ngày liền, rồi hướng dẫn cho vợ ông ấy làm cho chồng ở nhà, vì từ nhà hai ông bà đến chỗ tôi trị hơi xa. Một thời gian sau gặp lại ông, mắt ông đã sáng. ông cho tôi biết rằng khi đi khám mắt lại, bác sĩ chuyên khoa đã nói: “tôi chưa bao giờ gặp trường hợp mắt khỏi hồn tồn như thế bao giờ!”.
MÙ DO VIÊM NÃO
(Trích trong ‘ Tạp Chí Đông Y’ số 73, Việt Nam).
Hồ thị Th, 5 tuổi. Sau khi bị viêm não, để lại di chứng mù hồn tồn. Chuyên khoa ở bệnh viện chẩn đốn: Mù trung tâm. Bệnh đã 20 ngày, người gầy ốm, mù không thấy gì, đi đứng bình thường.
Điều trị: Châm cứu huyệt Tinh minh, Đồng tử liêu, Quang minh, Khế mạch. Châm bổ, lưu kim 30 phútCách 1 ngày châm 1 lần. Sau 3 lần châm, bệnh nhi xuất viện, thấy rõ, đi đứng bình thường.
HỒNG ĐIỂM VIÊM (Viêm Võng Mạc Trung Tâm Thanh Dịch)
(Trích trong ‘ Tạp Chí Đông Y’ số 122, Việt Nam).
Phạm Xuân H, 28 tuổi. Đang công tác bình thường, tự nhiên thấy nhức đầu nhẹ, 2 mắt có cảm giác nặng, lau dụi không mất, rất khĩ nhìn, có một quầng màu xanh thẫm che trước mắt, to bằng cái chén uống nước, vì vậy đọc sách không được, đi lại khó khăn. Khám chức năng thị giác theo chuyên khoa:
Thị lực mắt phải: 6/ 10, kính (không tăng).
Mắt trái:4/ 10, (nt).
Làm thị truờng: Chu biên bình thường.
Soi mắt: Ở trung tâm có ám điểm tuyệt đối, rộng 200. Tim phổi, các bộ phận khác bình thường.
Khám thực thể mắt:
+ Bán phần trước bình thường.
+ Thủy tinh thể, Thủy tinh dịch bình thường.
+ Đáy mắt, thần kinh, gai thị, các huyết quản không có tổn thưông.
+ Võng mạc vùng trung tâm cường tụ, không thấy ánh trung tâm.
+ Trên diện hồng điểm có 1 số chấm, vết xuất tiết màu vàng nhạt.
Chẩn đốn:
+ Theo YHHD: Viêm võng mạc trung tâm tiền dịch.
+ Theo YHCT: Thận âm hưtổn (quan hệ cả Can).
Xử phưông: Minh Mục Hồn (Chỉ xác, Hạnh nhân, Ngưu tất, Phịng phong, Sinh địa, Thạch hộc – tán thành bột, làm hồn).
Mỗi tuần tái khám một lần.
Sau 30 ngày: thị lực mắt phải tănglên 8/ l0, mắt trái là 6/ 10, thị trường trung tâm nhạt mầu, đáy mắt hết cưông tụ, bớt phù.
Sau 86 ngày, Mắt phải tăng 10/ 10, Mắt trái 12/ 10, thị trường trung tâm bình thường, đáy mắt hồng điểm không thấy ánh trung tâm, tổn thưông ổn định. Theo dõi, không thấy tái phát.
GIÁC MẠC VIÊM DO SIÊU VI
(Trích trong ‘ Tạp Chí Đông Y’ số 122, Việt Nam).
Trần Văn T..., 30 tuổi. Mắt bên phải đỏ, cộm, nhức chĩi, chảy nước mắt nhưng không có dử, nhìn mờ dần, người mệt mỏi, sốt nhẹ 3705 – 380, ăn ít, tiểu bình thường, đại tiện 2 ngày một lần.
Khám chuyên khoa: Mắt phải 1/ 10, Mắt trái l5/ 10.
Chẩn đốn theo YHHD: Giác mạc viêm do siêu vi.
Chẩn đốn theo YHCT: Ngoại cảm phong nhiệt ẩn nấp ở Tỳ.
Xử phưông: Tiểu Thừa Khi Thang Gia Giảm:
Cam thảo 4g, Hậu phác 6g, Trần bì 4g, Đại hồng (để sống) 6g, Chỉ xác 8g, Bạch thược 8g, Hoạt thạch 4g, Kinh giới 6g
Xa tiền 6g, Mạn kinh 4g, Sinh địa 8g. Uống 4 thang, ngày 1 thang, M P không cịn kích thích, chỉ cịn mờ, thị lực tăng 5/ 10.
Cho uống tiếp 3 thang Lục Vị (Đơn bì, Hồi sơn, Phục linh, Sơn thù, Thục địa, Trạch tả) thêm Đưông quy 18g, Ngưu tất 10g, Cát căn 10g, Mạch mơn 8g, Mộc tặc 4g,.
Sau 14 ngày điều trị, Mắt bên phải trở lại bình thường.






