1. Tổng quát:
Đột quỵ hay tai biến mạch máu não (TBMMN) là bệnh lý tổn thương một phần não xảy ra đột ngột do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ dẫn đến não bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng. Khi thiếu máu nuôi, não sẽ ngưng hoạt động rồi chết đi trong vòng vài giây đến vài phút. Phần nào của não bị chết thì phần cơ thể tương ứng do nó điều khiển sẽ không hoạt động được, biểu hiện bằng liệt nửa người, tê và mất cảm giác nửa người, nói khó hoặc không nói được, hoặc hôn mê...
Theo Tổ chức y tế thế giới, TBMMN được định nghĩa như sau:
+ Biểu hiện các rối loạn về chức năng thần kinh như hôn mê, liệt nửa người, nói đớ, nuốt bị sặc, xuất hiện nhanh, đột ngột.
+ Các rối loạn chức năng này thường tồn tại quá 24 giờ.
+ Các khám xét và thăm dò đã loại trừ nguyên nhân sang chấn thương sọ não.
TBMMN là một trong những bệnh gây tử vong và tàn phế nhiều nhất cho người lớn, là bệnh của hệ thần kinh phổ biến nhất hiện nay, có tần suất xuất hiện là 1,5/1000 người/năm; tần suất này ở lứa tuổi trên 75 lên đến 10/1000 người/năm. Trong các thống kê về bệnh tật của OMS, TBMMN được coi là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của 54/57 nước có thống kê. Trên 40 nước, TBMMN được coi là một trong ba nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Ở Mỹ, hàng năm có khoảng 400.000 người bị TBMMN, và trên 40% trong số những người này bị tử vong.
Số ca tử vong do TBMMN trong những năm gần đây có xu hướng cao hơn cả số ca tử vong do bệnh ung thư và chỉ đứng sau bệnh tim mạch.
Bệnh thường để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, biến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Khoảng 30% những người sống sót do TBMMN phải phụ thuộc vào người khác. Sau TBMMN, hầu như cuộc sống bình thường không còn nữa, họ phải tự điều chỉnh và thích nghi với lối sống mới và những người trong gia đình phải giúp đỡ họ rất nhiều.
Cứ 100 người bị đột quỵ thì có khoảng 10 đến 20 người chết, khoảng 25 người nằm liệt giường hoặc luôn cần người phụ giúp, chăm sóc, chỉ 20 người khỏe mạnh lại hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn và làm việc trở lại được, còn lại là những người có hồi phục nhưng vẫn yếu hoặc liệt một phần.
1.1. TBMMN:
TBMMN có hai loại: tắc hoặc vỡ mạch máu trong não. Các triệu chứng thần kinh trung ương khu trú biểu hiện nhanh sau vài phút, nên TBMMN còn được gọi là đột quỵ. 80% đột quỵ là do nhồi máu não.Tổn thương này làm giảm đột ngột hoặc ngưng hoàn toàn việc cung cấp máu đến não. Nguy cơ đột quỵ sẽ tăng dần theo độ tuổi, nam nhiều hơn nữ. Sau 50 tuổi, nguy cơ đột quỵ tăng gấp 2 lần, trên 65 tuổi, nguy cơ đột quỵ tăng gấp 7 lần.
1.2. Cơn thiếu máu não thoáng qua:
Cơn thiếu máu não thoáng qua là tình trạng chức năng não bị suy giảm tạm thời trong một khoảng thời gian ngắn (dưới 24 giờ) do thiếu máu nuôi. Cơn thiếu máu não gây ra mất chức năng một vùng cơ thể được kiểm soát bởi phần não có liên quan. Nhiều người gọi cơn thiếu máu não là “cơn TBMMN nhỏ ”.
Cơn thiếu máu não thoáng qua tiến triển từ từ, một số khác lại tiến triển rất nhanh. TBMMN thường dài hơn cơn thiếu máu não thoáng qua và phản ánh tình trạng tổn thương vĩnh viễn, nặng. Mặc dù cơn thiếu máu não thoáng qua thường chỉ kéo dài vài phút và sau đó hết, nhưng hầu hết các chuyên gia cho rằng cơn thiếu máu não thoáng qua nên được đánh giá giống như cấp cứu về TBMMN để cố gắng ngăn ngừa sự tái phát hoặc xảy ra TBMMN. Cơ thiếu máu não thoáng qua có thể xảy ra một hoặc nhiều lần hoặc dẫn tới TBMMN thật sự.
2. Bệnh căn
Trên thực tế rất khó xác định nguyên nhân gây ra TBMMN, với phương tiện chẩn đoán hiện đại là CT-Scan cũng chỉ có thể xác định được dạng TBMMN là nhũn não hay xuất huyết não chứ không xác định được nguyên nhân gây ra TBMMN. Về mặt lý thuyết người ta nhận thấy xuất huyết não hay chảy máu trong là do vỡ động mạch ở não (có thể do huyết áp cao làm vỡ động mạch não hoặc do vỡ mạch máu não bị dị dạng bẩm sinh). Nhũn não thường mạch máu não bị tắc nghẽn. Sự tắc nghẽn này do nhiều lý do trong đó có liên quan đến xơ vữa động mạch, một số bệnh tim mạch tạo ra cục máu đông trong tim theo dòng máu lên não làm tắc động mạch não.
2.1. Tắc mạch máu não:
- Xơ mỡ động mạch tại chỗ: do có mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch máu, ngày càng dày lên làm lòng mạch hẹp dần lại, máu ứ lại và đóng thành cục máu đông gây tắc mạch tại chỗ hoặc chạy lên cao làm tắc các mạch máu phía sau.
Một dạng khác của TBMMN là cục máu đông hoặc một mảnh của mảng xơ vữa (do cholesterol và calcium lắng đọng trên thành trong của tim hoặc động mạch) bong ra rồi di chuyển theo động mạch làm tắc nghẽn động mạch não
- Bệnh tim: Tim đập không đều (loạn nhịp, rung nhĩ) hoặc van tim bị hẹp... làm máu không lưu thông tốt, phần máu ứ đọng đóng lại thành cục máu đông trong tim. Một mảnh của cục máu này có thể vỡ ra trôi theo dòng máu lên não sẽ mắc kẹt lại tại đó làm tắc nghẽn mạch máu não.
- Bệnh mạch máu nhỏ: ở người tăng huyết áp, tiểu đường lâu năm không chữa trị tốt, các động mạch nhỏ trên não bị hư hỏng và tắc nghẽn không cấp máu cho não được nữa cũng gây thiếu máu não.
2.2. Vỡ mạch máu não:
Tăng huyết áp, chấn thương, vỡ phình động mạch não.
2.3 Nguyên nhân khác:
Giảm huyết áp (tụt huyết áp đột ngột hơn 40 mm Hg), viêm động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc xoang tĩnh mạch. Dị dạng mạch máu não, thoái hóa mạch máu não, u não...
Ở người trẻ: bệnh tiểu cầu, chảy máu dưới màng nhện, dị dạng động mạch cảnh.
3. Yếu tố nguy cơ:
Tăng huyết áp, hút thuốc lá, tiểu đường, một số bệnh tim (bệnh van tim, thiếu máu cơ tim, rung nhĩ), bệnh mạch máu ngoại biên, tiền căn thiếu máu cục bộ thoáng qua, tăng thể tích hồng cầu, bệnh đa hồng cầu, phụ nữ vừa hút thuốc lá vừa dùng thuốc tránh thai nội tiết tố, tăng chất béo trong máu, lạm dụng thức uống có cồn (rượu, bia), rối loạn chức năng đông máu.
Khi TBMMN xảy ra ở những người dưới 50 tuổi, những yếu tố nguy cơ ít gặp hơn có thể hiện diện. Những yếu tố này bao gồm thuốc như cocaine hoặc amphetamine, vỡ phình động mạch, đông máu do liên quan đến di truyền. Yếu tố di truyền liên quan tới đông máu gây ra TBMMN trong một số hiếm trường hợp là homocystin niệu, trong trường hợp này có sự gia tăng quá mức chất homocystine trong cơ thể. Hơn nữa, các nhà khoa học đang cố gắng xác định những yếu tố không do di tuyền liên quan tới tình trạng homocystine máu cao ở nhiều lứa tuổi, mà nó cũng có thể gây ra TBMMN. Một nguyên nhân hiếm gặp khác của TBMMN là viêm mạch máu. Những người đau đầu migraine (đau nửa đầu) có tỉ lệ TBMMN cao hơn so với những người khác.
4. Triệu chứng lâm sàng:
Trên thực tế người bị TBMMN có 2 dạng thường gặp là nhũn não và xuất huyết não, cả 2 dạng này đều có những biểu hiện chung sau đây:
4.1. Rối loạn về tri giác:
Có nhiều trường hợp người bệnh vẫn còn tỉnh táo, nhưng đa số là có tri giác giảm sút như: lơ mơ, ngủ gà đôi khi là hôn mê.
4.2. Rối loạn về vận động:
Liệt nửa người, nếu nặng người không tự đi lại được, trường hợp nhẹ người bệnh đi khó khăn, liệt mặt cùng bên với bên bị liệt, liệt các cơ hầu họng làm cho người bệnh nuốt khó khăn khi ăn uống dễ bị sặc, thức ăn rớt vào đường hô hấp gây nghẹt thở có thể gây tử vong cho bệnh nhân.
Ngoài ra người bệnh có thể bị tình trạng nói khó, hay không nói được, tiêu tiểu cũng không điều khiển được.
Biểu hiện lâm sàng do tắc mạch hoặc do vỡ mạch khó có thể phân biệt, để chẩn đoán nguyên nhân phải dựa vào các yếu tố tiền căn, bệnh có sẵn và xét nghiệm cận lâm sàng (MRI, CT scan).
Trong trường hợp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, tiến triển chỉ trong vài giờ (hoặc vài ngày). Trên lý thuyết, các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với khu vực tưới máu của động mạch bị tổn thương, tuy nhiên do các động mạch thông nối với nhau nên có sự cấp máu bù bởi các động mạch còn nguyên, làm nhòe các triệu chứng.
Tổn thương trong bán cầu đại não (50% các trường hợp) có thể gây ra: liệt đối bên, khởi đầu là liệt mềm, dần dần diễn tiến đến liệt cứng; giảm cảm giác đối bên; giảm thị lực cùng bên; nói khó.
Tổn thương thân não (25%): triệu chứng đa dạng, có thể gây liệt tứ chi, rối loạn thị giác, hội chứng khóa trong (tỉnh, hiểu nhưng do liệt, không làm gì được).
Tổn thương khiếm khuyết (25%): nhiều điểm nhồi máu nhỏ quanh hạch nền, bao trong, đồi thị và cầu não. Người bệnh vẫn ý thức, các triệu chứng có thể chỉ liên quan tới vận động hoặc cảm giác hoặc cả hai, có khi có triệu chứng thất điều.
Khi có các triệu chứng sau cần phải chú ý và đưa đến bệnh viện ngay lập tức:
- Đột ngột thấy tê cứng ở mặt, tay hoặc chân - đặc biệt là tê cứng nửa người.
- Đột ngột nhìn không rõ (Thị lực giảm sút).
- Đột ngột không cử động được chân tay (Mất phối hợp điều khiển chân tay).
- Đột ngột không nói được hoặc không hiểu được người khác nói.
- Đầu đau dữ dội
Phụ nữ có thể có các biểu hiện đặc trưng sau:
- Đột ngột đau ở mặt hoặc chân.
- Đột ngột bị nấc.
- Đột ngột cảm thấy buồn nôn.
- Đột ngột cảm thấy mệt.
- Đột ngột tức ngực.
- Đột ngột khó thở.
- Tim đập nhanh bất thường
Ghi chú: Chúng tôi nhấn mạnh chữ đột ngột để chỉ các triệu chứng xảy ra bất thường, không do các yếu tố bên ngoài.
5. Cận lâm sàng:
5.1. Chụp cắt lớp điện toán (CT Scan):
CT Scan não thường được thực hiện, có thể cho thấy dấu hiệu chảy máu ở trong não, từ đó có phương pháp điều trị khác với TBMMN gây ra do tắc mạch não. CT Scan cũng giúp loại trừ nhiều nguyên nhân khác về bệnh lý thần kinh đã nói ở trên có triệu chứng gần giống như TBMMN.
5.2. Chụp cộng hưởng từ (MRI):
Ưu điểm chính của MRI là thấy được hình ảnh của não nhiều chi tiết hơn so với chụp CT scan.
Tuy nhiên, CT scan thường được chụp trước tiên cho bệnh nhân TBMMN bởi vì nó có thể phát hiện xuất huyết não sớm tốt hơn MRI.
5.3. Chụp mạch máu thường qui:
Chụp mạch máu là một xét nghiệm khác đôi khi được dùng để quan sát những mạch máu. Chụp mạch máu thường cho thấy hình ảnh chi tiết về giải phẫu của mạch máu, nó cũng là một kỹ thuật có tính xâm lấn và chúng ta chỉ dùng phương pháp này khi thật cần thiết. Ví dụ, chụp mạch máu nên được thực hiện sau xuất huyết khi muốn xác định được nguồn gốc của chảy máu. Đôi khi cũng cần thực hiện việc đánh giá chính xác tình trạng của động mạch cảnh để dự kiến phẫu thuật giải tắc nghẽn thì chúng ta nên chụp mạch máu.
5.4. Siêu âm Doppler động mạch cảnh:
Quan sát chỗ hẹp và vùng giảm lưu lượng máu chảy qua động mạch cảnh.
5.5. Những xét nghiệm về tim:
Một vài xét nghiệm để đánh giá chức năng của tim thường được làm ở bệnh nhân bị TBMMN để khảo sát nguồn gốc của thuyên tắc mạch.
Siêu âm tim để quan sát các buồng tim.
Máy theo dõi Holter cũng tương tự như điện tâm đồ liên tục, nhưng những cái băng dán điện cực vẫn còn giữ trên ngực bệnh nhân khoảng 24h hoặc lâu hơn để xác định những rối loạn nhịp tim.
6. Điều trị:
TBMMN là một cấp cứu nội khoa. Bất kỳ một người nào nghi ngờ bị TBMMN thì nên đưa đi cấp cứu ngay lập tức để được khám và điều trị. Bác sĩ nên hỏi bệnh sử của bệnh nhân nếu còn tỉnh táo hoặc những người cùng gia đình đi theo, và thực hiện khám ngay.
Nếu bệnh nhân khám bác sĩ tư rồi, thì cần nên tham khảo ý kiến này trong việc đánh giá bệnh tật. Những hiểu biết trước đây về bệnh nhân có thể giúp đánh giá chính xác hơn. Chuyên gia về thần kinh và bệnh của não, được mời đến để trợ giúp chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân TBMMN.
Hầu hết bệnh nhân TBMMN được điều trị bằng thuốc và các biện pháp hỗ trợ khác. Chỉ một số ít bệnh nhân có thể mổ được, nhưng kết quả không phải lúc nào cũng tốt, do đó bác sĩ sẽ rất cân nhắc khi chỉ định mổ.
6.1. Nội khoa:
6.1.1. Điều trị chung:
- Thở oxy.
- Thuốc ổn định huyết áp.
- Thuốc chống hiện tượng phù ở não.
- Cung cấp vitamin và chất khoáng.
- Thuốc chữa các bệnh đi kèm như tiểu đường, hay biến chứng của bệnh viêm phổi, loét. Trong chăm sóc cấp cứu việc chống loét, hút đàm nhớt ở phổi thường xuyên, vỗ lưng để tránh ứ đọng ở phổi có ý nghĩa rất lớn.
6.1.2. Thuốc:
- TPA: Thrombolytic Agents (Generic name: Alteplase, Brand name: Activase; TPA)
Trong một vài năm gần đây, có một loại thuốc dùng điều trị ngay tình trạng TBMMN là TPA. TPA rất công hiệu trong việc “phá vỡ cục máu đông”, tăng tưới máu qua đường tĩnh mạch. Nếu TPA được cho trong vòng 3 giờ đầu sau khi khởi đầu triệu chứng TBMMN, TPA có thể cải thiện tình trạng TBMMN về lâu dài cho bệnh nhân. TPA cho ngay khi triệu chứng bắt đầu, kết quả sẽ tốt hơn. Vì vậy, thời gian là cốt lõi nhất.
- Sử dụng Heparin và Aspirin sớm:
Thuốc chống đông máu đôi khi cũng được dùng trong điều trị bệnh nhân TBMMN với hy vọng cải thiện sự hồi phục cho bệnh nhân. Tuy nhiên, vấn đề này còn đang tranh luận, việc dùng kháng đông để cải thiện hậu quả của TBMMN đang sắp xảy ra hoặc chỉ đơn thuần giúp ngăn ngừa hậu quả của độ quỵ. Trong một vài trường hợp, Aspirin cho sau khi khởi đầu TBMMN với liều nhỏ đã cho thấy có hiệu quả hồi phục.
Nếu bệnh nhân có phản ứng khi dùng thuốc Aspirin hoặc cơn TBMMN vẫn xảy ra, 3 thuốc ức chế tiểu cầu mới hơn có thể được dùng là Clopidogrel, Aspirin phóng thích kéo dài và Ticlopidine.
- Dùng thuốc kháng đông – Warfarin:
Thuốc Warfarin sẽ làm cho máu loãng ra để ngăn ngừa sự tạo lập cục máu đông. Thuốc này thường dùng ở bệnh nhân rung nhĩ để giảm đi nguy cơ này. Đôi khi, thuốc warfarin cũng được dùng để ngăn ngừa TBMMN tái phát ở những trường hợp khác như là ở những bệnh tim khác và những trường hợp máu dễ bị đông. Bệnh nhân dùng warfarin cần phải được kiểm tra máu định kỳ để chắc chắn rằng liều đang sử dụng đạt được hiệu quả mong muốn.
6.1.3. Xử trí nội khoa khác:
Huyết áp quá cao hoặc quá thấp thì cần thiết phải được điều trị đối với bệnh nhân TBMMN. Nếu bệnh nhân bị tăng huyết áp chúng ta không được đưa huyết áp trở về ngay giá trị bình thường, mà phải hạ xuống từ từ trong vài ngày; còn nếu hạ huyết áp xuống nhanh quá sẽ làm cho tình trạng TBMMN ngày càng tồi tệ hoặc ít cơ hội hồi phục hơn; điều chỉnh huyết áp xuống từ từ sẽ giúp cho sự tưới máu qua những chỗ hẹp hoặc gần động mạch bị tắc được tốt hơn.
Ở những bệnh nhân tiểu đường, đường trong máu thường ở mức rất cao sau TBMMN. Kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân này có thể làm giảm được độ lớn của vùng não bị tổn thương.
6.2. Ngoại khoa:
6.2.1. Khoan sọ giảm áp:
Có thể được coi là một trong những phẫu thuật xuất hiện sớm nhất trong lịch sử y học. Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại Học Heidelberg đã làm sống lại phương pháp điều trị gây nhiều tranh cãi này khi đưa ra kết luận rằng những bệnh nhân bị TBMMN có thể được điều trị thành công bằng phương pháp phẫu thuật này.
Nghiên cứu đăng trên “Lancet Neurology” đã phân tích số liệu thu thập từ 95 bệnh nhân bị TBMMN nặng. Trong số này những bệnh nhân được phẫu thuật mở hộp sọ bán phần có tỉ lệ sống 78% trong khi đó nhóm không được phẫu thuật có tỉ lệ sống chỉ là 29%.
Cần nói thêm rằng, đây cũng chỉ là những nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học, mặc dù là những nhà khoa học có uy tín. Kết luận cuối cùng chỉ có thể có sau những nghiên cứu quy mô rộng lớn hơn. Mặc khác, như trên cho thấy, chỉ những bệnh nhân nào bị tai biến với tình trạng chảy máu trong não rất nhiều làm tăng nhanh áp lực bên trong hộp sọ mới cần đến can thiệp phẫu thuật. Không phải bất cứ trường hợp tai biến nào cũng có chỉ định phẫu thuật.
6.2.2. Cắt bỏ áo trong động mạch cảnh:
Trong nhiều trường hợp bệnh nhân bị cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc TBMMN gây ra do hẹp hoặc loét động mạch cảnh. Nếu không điều trị, bệnh nhân sẽ có nguy cơ cao bị TBMMN trong tương lai. Phẫu thuật cắt lọc sạch sẽ những mảng bám ở bên trong lòng động mạch cảnh và hồi phục lại lưu lượng máu đầy đủ để cung cấp cho não được gọi là phẫu thuật cắt bỏ lớp áo trong động mạch cảnh. Tiến trình này cho thấy đã giảm được tần suất TBMMN sau đó. Ở những bênh nhân bị hẹp động mạch cảnh nhưng không có triệu chứng, phẫu thuật này có thể được chỉ định để ngăn ngừa xảy ra TBMMN lần đầu.
6.3 Trong tương lai, điều trị TBMMN như thế nào?
Hiện nay, nhiều nghiên cứu đang được tiến hành trên việc dùng thuốc để giải quyết cục máu đông. Những thuốc này được cho hoặc là chích tĩnh mạch hoặc trực tiếp vào động mạch bị tắc. Mục tiêu của những nghiên cứu này là tìm ra những ưu điểm và hình thức mới của điều trị cho bệnh nhân. Những thuốc mới này cũng được dùng thử nghiệm để giúp làm giảm sự thoái hóa của các tế bào thần kinh bị thiếu oxy xảy ra lúc TBMMN.
Những thuốc này được gọi là thuốc “bảo vệ thần kinh” ví dụ như là Sipatrigine. Một thuốc khác là Chlormethiazole, tác động bằng cách cải tiến sự hồi phục của những gen bị ức chế trong não. Cuối cùng, những tế bào mầm đã được nuôi dưỡng ở nhiều cơ quan khác nhau cũng đã được dùng để cố gắng thay thế các tế bào não bị tổn thương. Ở nhiều trung tâm nghiên cứu nổi tiếng, những thuốc thử nghiệm này đã được dùng trên lâm sàng. Với những phương pháp điều trị mới này cũng không thể hồi phục hoàn toàn chức năng cho người bệnh như trước khi bị tai biến.
7. Diễn tiến:
Khoảng 20% tử vong trong vòng 1 tháng, 5-10% trong vòng 1 năm. Khoảng 40% hồi phục không di chứng. Tiên lượng xấu nếu có các triệu chứng: giảm ý thức, lệch nhãn cầu, liệt.
Nhiều bệnh nhân có thể hồi phục một phần hoặc hoàn toàn, nếu được chăm sóc điều trị thích hợp. Thời gian để hồi phục từ một vài ngày đến vài tháng, tùy theo mức độ bệnh. Thời gian hồi phục nhanh và nhiều nhất là 3 tháng đầu tiên sau đột quỵ.
Trường hợp nặng có thể để lại di chứng tàn phế nặng nề, người bệnh không thể tự sinh hoạt được. Các trường hợp nặng có thể sẽ tử vong, hầu hết tử vong xảy ra trong tuần đầu tiên.
Dựa vào tiến triển của bệnh theo thời gian trong 2 đến 3 tuần đầu người ta phân TBMMN ra 5 loại như sau:
1. Khỏi hoàn toàn trước 24 giờ: Gọi là thiếu máu não cục bộ thoáng qua. Hiện nay coi là yếu tố nguy hiểm, không phải là TBMMN thực sự. Những người này có thể bị TBMMN thực sự sau đó nếu không quan tâm đến việc điều trị và phòng ngừa.
2. Khỏi hoàn toàn sau 24 giờ bị liệt gọi là thiếu máu não có hồi phục.
3. Khỏi một phần và di chứng kéo dài.
4. Không hồi phục hoặc nặng lên liên tục.
5. Tử vong.
8. Chẩn đoán phân biệt:
U não, chảy máu dưới màng cứng, liệt Todd (hội chứng thần kinh khu trú sau động kinh, hồi phục trong vòng 24 giờ). Ngộ độc do dùng thuốc quá liều, nhất là khi có triệu chứng mất tri giác.
9. Biến chứng thường gặp ở người bị TBMMN và cách phòng chống:
9.1. Loét:
+ Đề phòng để tránh loét:
- Giữ gìn vệ sinh chung sạch sẽ: tắm rữa hoạc lau sạch bệnh nhân mỗi ngày.
- Thoa bột tale hoặc phấn vùng lưng bệnh nhân hoặc chỗ bị hâm.
- Nên xoay trở đổi vị trí bệnh nhân 2h/lần.
+ Đã có vết loét:
- Cần chăm sóc vết loét thật kỹ, rữa vết thương, thay băng vết thương mỗi ngày, không nên để cho vết thương chạm xuống mặt giường (có thể dùng vỏ bánh xe sạch).
- Khi vết thương có nhiễm trùng, ngoài việc giữ gìn sạch sẽ vết thương, cần dùng kháng sinh để điều trị thêm.
9.2. Cứng khớp:
Người bệnh hôn mê hoặc tỉnh nằm kéo dài mà không được vận động hoặc chủ động.
+ Đề phòng trước khi bị cứng khớp:
Khi bị TBMMN dù bệnh nhân có hôn mê hay không, vẫn phải tiến hành vận động ngay từ đầu; xoa bóp nhẹ các khớp ở tứ chi. Mục đích làm cho các khớp vận động tránh bị cứng khớp.
+ Trường hợp cứng khớp
Như một diễn biến bình thường, lúc đầu là liệt mềm sau đó một vài tuần hoặc vài tháng chuyển thành liệt cứng (có trường hợp liệt mềm). Do đó cần tập VLTL đúng quy cách để giải quyết cứng khớp cho bệnh nhân.
9.3. Viêm đường tiết niệu:
Cũng thường xảy ra bệnh nhân bị TBMMN, đa số nữ nhiều hơn nam.
+ Đề phòng viêm đường tiết niệu
- Tiểu tự chủ: cố gắng giữ vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần vệ sinh, tắm rữa hoặc lau mình mỗi ngày, lau khô, tránh ẩm ướt.
- Tiểu không được sau TBMMN.
Có thể chườm nóng, chườm lạnh cho bệnh nhân, châm cứu hoặc có thể dùng một thuốc lợi tiểu nhẹ (Râu mèo, râu bắp...).
Nếu điều kiện trên không giải quyết được, giải quyết bằng phương pháp thông tiểu.
9.4. Viêm phổi:
Nhiễm trùng phổi hay gặp vì tình trạng liệt làm người bệnh nằm nhiều không thể hít thở sâu được, cộng với sự tiết nhiều đàm nhớt làm cho phổi thường xuyên bị ứ đọng dễ dẫn đến viêm phổi. Để tránh những biến chứng này, người chăm sóc nên đỡ người bệnh ngồi dậy, nhắc người bệnh hít thở sâu và vỗ lưng. Vỗ lưng là việc làm rất đơn giản mà có hiệu quả. Cách vỗ lưng đúng như sau: đỡ người bệnh ngồi dậy xếp kín các ngón tay, lòng bàn tay hơi khum, vỗ đều 2 bên lưng từ giữa lưng lên 2 vai. Tránh động tác sai là xòe bàn tay đánh vào lưng người bệnh.
9.5. Tuột vai:
Đây cũng là trường hợp gặp rất nhiều bệnh nhân bị TBMMN, vần đề điều trị khó khăn, hiệu quả phục hồi rất kém.
- Dùng khăn nâng cánh tay bệnh nhân lên có thể suốt ngày.
- Tập VLTL.
- Châm cứu.
Lưu ý trong chăm sóc người bệnh TBMMN:
- Tình trạng liệt cơ hầu họng làm nuốt khó, dễ bị sặc khi ăn uống, gây tai biến hít vào phổi. Trường hợp nhẹ thì viêm phổi, nặng hơn là nghẹt đường hô hấp gây ngừng thở và tử vong. Khi cho ăn thức ăn nên xay nhuyễn, lỏng dễ nuốt nhưng phải chứa đầy đủ chất dinh dưỡng. Nếu tình trạng ăn dễ sặc, đặt ống sond dạ dày.
10. Phòng ngừa:
Người đã bị TBMMN sẽ có nhiều nguy cơ tái phát ngay từ những ngày đầu và trong suốt thời gian sống còn lại, do đó phải chú ý điều trị tích cực để phòng ngừa.
Để phòng ngừa tái phát, có nhiều việc cần phải làm đồng thời:
- Thay đổi lối sống:
+ Tránh lối sống ít vận động, tránh vận động thể lực quá mức như mang vác nặng, chạy nhanh.
+ Không ăn nhiều mỡ béo, chất ngọt, chất đường, thức ăn nhiều mắm muối (phải ăn nhạt), ăn nhiều rau, củ, trái cây. Kiêng rượu bia và các chất kích thích.
+ Tránh trạng thái căng thẳng thần kinh, xúc động mạnh. Tránh mất ngủ, táo bón.
+ Cẩn thận khi thời tiết chuyển lạnh vào mùa đông và khi áp suất không khí lên cao vào mùa hè. Tránh tắm khuya hoặc ở nơi gió lùa, nhất là với người bị cao huyết áp.
- Điều trị bệnh tăng huyết áp.
- Điều trị tiểu đường.
- Điều trị tăng cholesterol máu, bệnh tim nếu có.
Ngoài việc điều trị tốt các bệnh có thể dẫn đến TBMMN như trên việc dùng mỗi ngày 1 viên Aspirin liều thấp khoảng 80mg cũng cho hiệu quả tốt (thuốc này cần có chỉ định của bác sĩ).
10.1. Phòng ngừa cấp 1:
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ; điều trị huyết áp, kiểm soát đường huyết, lipid máu; bỏ thuốc lá; dùng thuốc kháng đông trọn đời ở những người bị thấp tim hoặc mang van tim nhân tạo ở bên tim trái. Cân nhắc khả năng dùng thuốc kháng đông ở người bị rung nhĩ mạn tính. Điều trị và dùng thuốc chống đông trong trường hợp đa hồng cầu, không uống quá nhiều rượu.
10.2. Phòng ngừa cấp 2:
Tiếp tục kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Nếu là tắc mạch máu hoặc rung nhĩ mạn tính, có thể dùng aspirin hoặc warfarin.
11. Phục hồi chức năng cho người bệnh TBMMN:
Vấn đề phục hồi chức năng có ý nghĩa rất lớn với người bệnh TBMMN, có ý nghĩa kéo dài sự sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Mục tiêu của phục hồi chức năng là chống teo cơ và cứng khớp giúp tăng phần nào sức cơ. Phục hồi chức năng gồm các vấn đề chính sau đây:
- Trong trường hợp liệt nặng hoàn toàn nên tập thụ động tại giường. Tập tất cả các khớp từ khớp ở ngón tay, ngón chân đến các khớp lớn như khớp vai khớp háng. Tập mỗi lần 15 - 30 phút ngày 2 - 3 lần.
- Trong trường hợp liệt bán phần, người bệnh còn cử động được nhưng khó khăn thì cần tập trợ giúp nghĩa là cho người bệnh tập bình thường, khi thấy động tác nào khó khăn thì giúp cho người bệnh cử động hết tầm hoạt động của khớp. Trong những trường hợp này đôi khi phải dùng thêm dụng cụ trợ giúp.
- Còn nếu liệt nhẹ người bệnh còn tự sinh hoạt được có thể tự tập luyện theo hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu, vài lần sau tự tập. Khi thuần phục cần học thêm những bài tập khác cao cấp hơn. Lưu ý tập dáng đi đúng đẹp, không cần đi nhanh. Tránh dáng đi tự phát không nhấc chân lên cao dáng đi chân phát cỏ.
Tài liệu tham khảo:
1. ThS. Phan Hữu Phước - Tai biến mạch máu não.
2. ThS. Nguyễn Bá Thắng - Phòng ngừa đột quỵ do tai biến mạch máu não.
3. Coffey C. Edward, Cummings Jeffrey L, Starkstein Sergio, Robinson Robert. "Stroke". The American Psychiatric Press Textbook of Geriatric Neuropsychiatry, Second Edition. Washington DC: American Psychiatric Press, Inc, 2000. p.601-617.
4. Jauch, Edward C. 2005. “Acute Stroke Management.” eMedicine.com, Inc.
5. Kopito, Jeff. 1996. "A Stroke in Time". MERGINET.com, September 2001, Volume 6 Number 9. Available.
6. National Institute of Neurological Disorders and Stroke (NINDS). 1999. National Institutes of Health., Stroke: Hope Through Research.
7. Perry, Thomas and Miller Frank. Pathology: A Dynamic Introduction to Medicine and Surgery. Boston: Little, Brown and Company, 1961.
8. Senelick Richard C., Rossi, Peter W., Dougherty, Karla. Living with Stroke: A Guide For Families. Contemporary Books, Inc., Chicago IL, 1994.
9. Stanford Hospital & Clinics. 2005. Cardiovascular Diseases: Effects of Stroke. Stroke Center of the Washington University School of Medicine.
10. Thompson, Jesse E. " The Evolution of Surgery for the Treatment and Prevention of Stroke: The Willis Lecture". Stroke. 27:1427-1434.
11. Villarosa, Linda, Ed., Singleton, LaFayette, MD, Johnson, Kirk A., Black Health Library Guide to Stroke. Henry Holt and Company, New York, 1993.
* Bài này chỉ có tính chất tham khảo, không thể thay thế cho BS điều trị của bạn. Không tự ý chẩn đoán và điều trị. Mọi vấn đề có liên quan đến sức khỏe phải tham khảo với BS điều trị.






