Mục tiêu học tập
1. Nêu được các đặc điểm phát triển của y học trong các quốc gia phong kiến phương Đông. 2.Nêu được các đặc điểm phát triển của y học trong các quốc gia phong kiến phương Tây.
3. Nêu được các đặc điểm phát triển của y học Việt Nam trong xã hội phong kiến.
I. Y HỌC A RẬP DƯỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Tất cả mọi sử gia đều công nhận rằng người A Rập giữ một vai trò quan trọng trong việc lưu truyền kinh nghiệm y học của Hy Lạp. “ Nền y học A Rập đã là cái gạch nối giữa y học Hy Lạp, kế thừa sự khôn ngoan của người xưa, và y học hiện đại, bắt nguồn từ thời phục hưng”.
Người A Rập đã dịch hầu hết các tài liệu của Hippocrate và Galien. Các danh y trong giai đoạn này:
- Rhazes ( 850 -923), danh y nổi tiếng A Rập, đã viết cuốn “Lục địa”, một pho bách khoa toàn thư trong đó ông đã phiên dịch các trước tác của cố nhân và có thêm một bài mô tả bệnh đậu mùa rất hay.
- Abulcasis ( 913 - 1013) là một phẫu thuật viên giỏi, ông đã mô tả bệnh bướu cổ và bệnh Pott.
- Avicenne ( 980- 1037) là một con người trác tuyệt về trí tuệ và học vấn, được mệnh danh là “vua khoa học “. Có thể coi ông là một vị danh y lớn. Ông còn là một triết gia và là một nhà vật lý học. Tác phẩm “ Canon” của ông đã có thời kỳ được coi là “ Thánh kinh của y học “, 500 năm sau vẫn còn được giảng dạy ở Đại học Vienne (Ý). Tác phẩm gồm 1 triệu chữ về cơ thể học, sinh lý học, chẩn đoán và điều trị. Tả đúng bệnh viêm màng não, viêm thận mãn tính, liệt dây thần kinh mặt, loét dạ dày, viêm gan. Trong tác phẩm của Avicenne còn có những lời khuyên cho sản phụ, săn sóc sơ sinh, nắn gãy xương, chữa bệnh bằng muối khóang, bào chế tổng hợp các thứ thuốc. Avicenne quả quyết trên mặt đất có đủ thuốc để chữa khỏi tất cả các bệnh.
Trong tác phẩm của Avicenne, ông nêu lên những tư tưởng rất mạnh dạn và tiên tiến đối với thời bấy giờ. Ông đề nghị mọi người phải làm việc có ích cho xã hội và xã hội phải chăm sóc con người khi họ bị bệnh hoặc mất sức. Học thuyết của ông đã phá hủy cơ sở của quan niệm tôn giáo về thế giới. Những kinh nghiệm và nghiên cứu y học của ông được cô đọng lại trong bộ “ Quy tắc y học “
Avicenne thuộc phái Hippocrate, chấp nhận thuyết về các dịch. Tóm lại y học A Rập dưới chế độ phong kiến có những điểm cần chú ý:
- Tiếp tục và bổ sung các bài mô tả của nền y học Hy lạp.
- Điều trị học là phần thu được nhiều tiến bộ hơn cả.
- Dùng thuốc rất phổ biến, nhiều thuốc tổng hợp.
- Sách vở dịch thuật phát triển.
- Trường giảng dạy y học phát triển như Zundishapur, Bagdad, Cordoba.
- Bệnh viện phát triển : Bagdad có 60 bệnh nhân, Cordoba có 50.
- Phân ngành y và dược.
II. Y HỌC TRUNG QUỐC DƯỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
Chế độ phong kiến Trung Quốc diễn ra khi nhà Trần được thành lập (221 trước công nguyên ), phát triển và kéo dài đến thế kỷ III trước công nguyên và đến thế kỷ XIII sau công nguyên. Dưới chế độ phong kiến, Trung quốc đã xây dựng được một nền văn hóa rực rỡ.
- Về dược học:
+ Các danh y đời Hán ( đầu công nguyên ) đã soạn ra bộ “ Thần nông bản thảo”. Sách gồm 365 vị tuốc bổ, thuốc chữa bệnh độc hoặc không độc.
+ Quyển “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân có cống hiến to lớn cho nền dược liệu ( 1518 - 1593) gồm 1892 vị thuốc. Đó là bộ sách nổi tiếng được dịch ra tiếng La Tinh, Nhật , Pháp, Nga, Đức, Anh.
- Về y học :
+ Nâng cao lý luận y học : có những tác phẩm mang tính chất tổng kết như mạch học, châm cứu và những tác phẩm về ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa.
+ Thái y sứ đời Đường là một trường y sớm nhất.
+ Phát triển các phương pháp chữa bệnh trong nhân dân như cạo gió, giác. Thời kỳ đen tối của Trung Quốc là sau những năm 1840, dưới chế độ nửa thực dân nửa phong kiến, y học trì trệ. Bộ máy y tế thiếu thốn, lỏng lẻo, bệnh tật hoành hành. Trung y có chiều hướng bị diệt vong.
+ Cuối đời Hán, Trương Trọng Cảnh ( 150-219) soạn ra 2 bộ “Thương hàn luận” bàn về các bệnh truyền nhiễm và “Kim quy yếu lược” bàn về nôi khoa và tạp bệnh, chẩn đoán và trị liệu.
Trương Trọng Cảnh được coi là một trong những danh y lớn nhất của Trung Quốc.
+ Vương Thúc Hòa ( thế kỷ III sau công nguyên ) viết mạch kinh bàn về 6 bộ mạch.
Vào thế kỷ XIII, XIV, ở Trung Quốc có nhiều trường phái y học để lại ảnh hưởng lớn về sau:
+ Phái Hàn Lương của Lưu Hoàn Tế cho rằng cơ thể chịu ảnh hưởng của khí hậu sinh ra nhiệt. Dùng thuốc thanh nhiệt giải độc, làm bớt nóng, bớt sưng.
+ Phái bổ tì của Lý Đông Viên cho rằng tì vị tổn thương sinh ra bệnh tật. Ông chủ trương bổ tì vị.
Y học Trung Quốc chú ý phát triển học thuyết kinh lạc và châm cứu.
+ Hoàng Phủ Mật ( 215 - 282 sau công nguyên ) soạn cuốn Giáp Ât kinh là một bộ sách châm cứu trình bày rõ kinh lạc và việt vị.
+ Vương Duy Nhất đã đúc tượng bằng đồng có ghi Kinh lạc và Việt vị năm 1026 và vẽ một tập hình châm cứu.
+ Rèn luyện thân thể để phòng bệnh và chữa bệnh là đặc điểm của y học Trung Quốc.
+ Đời Tam quốc có Hoa Đà ( 112 - 207) giỏi về ngoại khoa. Theo sử sách, đó là người đầu tiên dùng thuốc mê để mổ bụng. Thuốc ấy đã thất truyền. Ông đặt ra phép “ Ngũ cầm hí” bắt chước động tác của 5 giống vật ( hổ, hươu, gấu, vượn, chim) để rèn luyện thân thể. Hoa Đà bị Tào Tháo giết năm 95 tuổi.
- Sào Nguyên Phương: Khí công và xoa bóp.
- Thái y Thương Phương mổ tử thi đầu tiên ở Trung Quốc. Y học Trung có sự giao lưu với Ấn độ. Dịch sách của Ân Độ. Năm 562 có thầy thuốc Trung Quốc mang sách châm cứu sang truyền bá ở Nhật Bản. Có sự trao đổi với người A Rập, Triều Tiên.
Sau chiến tranh Nha phiến, Trung Quốc bị thất bại với Anh ( 1842). Tây y tràn vào lấn áp làm nền Trung y khó phát triển. Mãi đến cách mạng thành công ( 1949) với chủ trương phát triển Trung Y của Đảng Cộng sản Trung quốc, nền Trung y mới đạt được những thành tựu rực rỡ.
III. Y HỌC CHÂU ÂU TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN
Chia ra 2 thời kỳ rõ rệt:
- Thời Trung cổ: thế kỷ V- XV.
- Thời Phục hưng ( Renaissance) thế kỷ XVI- XVII : tan rã của chế độ phong kiến và xuất hiện mầm mống của chế độ tư bản chủ nghĩa .
-. Đặc điểm chung của thời kỳ này:
+ Sự thống trị của Triết học Kinh Viện : hầu như không có sinh hoạt văn hóa, bọn lãnh chúa phong kiến chỉ chú ý quân sự, kéo quân xâm chiếm lẫn nhau.
+ Giáo dục là độc quyền của nhà thờ, giáo lý nhà làm mê muội người dân. Không chú ý khoa học.
+ Sự xuất hiện các trường Đại Học: trường Salerne miền Nam nước Ý. Trường Đại học y Salerne được mở giữa thế kỷ IX, rực rỡ vaò thế kỷ XI đến thế kỷ XIII thì tàn tạ. Ở đây giảng dạy các tài liệu của Hippocrate, Galien, y học A Rập. Có cuốn sách “Chế độ sức khỏe Salerne” ( Jean de Milan viết ) nổi tiếng. Đại ý cuốn sách này nói:
- Muốn mạnh khỏe sống lâu thì tránh làm việc nặng quá sức, không nên cáu giận, ăn uống thanh đạm, sau khi ăn mà đi bách bộ thì rất tốt, đừng uống rượu, đừng ngủ ngày, vui vẻ, bình tĩnh và ăn uống điều độ là thầy thuốc tốt.
- Thầy thuốc phải mềm mỏng, gần gũi mọi người.
- Ăn mặc chỉnh tề.
- Thời kỳ này các bệnh dịch lan tràn và gây chết chóc khủng khiếp.
- Bệnh dịch hạch: bùng nổ ở Sicile; đầu tháng 10 năm 1374 có 2 thuyền bể của người thành phố Gènes đáp vào đảo Sicile. Người Génois mang mầm bệnh đến. Bệnh nhân tự nhiên khi nhiễm bệnh cả thân thể đau như xiên, nhói buốt, đau lả đi, rồi xuất hiện ở đùi, kẽ vai những mụn nhọt bằng hạt đậu, thường dân gọi là hạt mụn lửa. Bệnh nhân nôn ra máu rồi chết, chết nhanh đến nỗi không ai kịp làm tờ di chúc.
Thầy thuốc đành bó tay, họ khuyên nên nhịn đói, hết sức bình tĩnh thì tai qua nạn khỏi. Nghe âm nhạc dịu êm, ngắm nhìn vàng bạc, châu báu cho tinh thần vui vẻ...vv
Đến khi biết bệnh do bọ chuột truyền sang thì các phương pháp điều trị quả thật vô hiệu. Nhưng đã có chế độ cách ly 40 ngày ( quarantaine) do một nước cộng hòa nhỏ bé Ragusse trên bờ biển Adriatique đặt ra một quy chế hiệu nghiệm. Ngày nay vẫn dùng từ Quarantaine trong phòng dịch quốc tế.
Ở Châu Âu chết mấy trăm ngàn người. Thành phố Florence ( Ý) chết một nửa số dân.
Tôn giáo thường coi vụ dịch hạch như cuộc trừng phạt của thượng đế.
- Bệnh Hystérie tập thể: có khi một nhóm, sau đó nhiều nhóm, có khi cả một làng đều lên cơn điên kêu gào, tự phạt roi, thú tội thật hay do tưởng tượng, ở giữa đám đông người đứng xem, rồi những người đứng xem cũng lên cơn điên, cả bọn ùa đi khắp nơi la hét ầm ỉ như đòan thú dữ.
Nói chung, qua các bệnh dịch, ta hiểu được trình độ y học, y tế thời trung cổ, một giai đoạn khá khủng khiếp trong lịch sử châu Âu thời đó.
- Thiên chúa giáo ngăn cấm phẫu tích làm cản trở việc nghiên cứu giải phẫu học.
- Giảng dạy mang tính chất lý thuyết, chưa thấy khái niệm thực tập bắt buộc ở trong các bệnh viện.
- Bệnh nhân hầu như chẳng được thăm khám gì hết. Trái lại rất coi trọng thử nước tiểu. Hay dùng trích huyết.
- Phẫu thuật không tiến lên một bước nào.
- Bệnh đậu mùa, bệnh phong lan ra khắp Châu Âu.
- Khước từ thí nghiệm, không có khả năng quan sát.
- Người thầy thuốc nhìn các sự kiện qua những tín điều sai lầm. Có sự lẫn lộn giữa y học và khoa học thần bí.
- Thời Trung cổ không có thuyết nào rõ ràng, không có hệ thống lý thuyết nào, không có sự phân loại các bệnh tật. Có một vài cuốn sách viết những bản kê các cây thuốc, những chế độ giữ sức khỏe, phỏng theo chế độ của Salerne, một tập giải phẫu học.
Có thể nói rằng người ta đã loại bỏ 10 thế kỷ trong lịch sử y học. Không có một thời đại nào sùng bái cổ nhân như thời Trung cổ.
2. Y học Tây Âu thời Phục hưng: ( thế kỷ XVI - XVII)
Danh từ Phục hưng ( Renaissance) tức là sống lại, vì trong thời Trung cổ, sinh hoạt tinh thần gần như ngừng trệ do sự kìm hãm của đạo giáo và phong kiến.
Phong trào văn hóa Phục hưng có sức sống mãnh liệt, chống lại thế giới quan duy tâm, thần bí của đạo thiên chúa, chỗ dựa về tư tưởng của chế độ phong kiến.
Khoa học tư nhiên phát triển: thời kỳ này lần đầu tiên con người đã khám phá ra trái đất ( Copernik 1473 - 1543), chứng minh quả đất quay xung quanh trục của nó và chuyển quanh mặt trời, chống lại triết học của giáo hôi cho Thượng đế sáng tạo ra thế giới. Có nhiều nhà bác học kiến thức rất rộng, xuất sắc về nhiều môn, biết nhiều thứ tiếng.
* Về y học :
* Khám phá ra hệ thống tuần hoàn:
- Michel Servet ( 1509 - 1553) bác sĩ Tây Ban Nha, đầu tiên tìm ra tiểu tuần hoàn, khẳng định trong máu có không khí.
- Sau đó William Harvey ( 1578-1657) trình bày đầy đủ toàn bộ hệ tuần hoàn: máu đi một vòng chứ không rập rình như thủy triều, van tĩnh mạch hướng cho máu chảy về tim, van động mạch bắt máu phải đi thóat xa tim. Sau Harvey có Malpighi ( 1628 - 1694) phát minh hệ thống mao mạch.
* Phát triển giải phẫu:
- Léonard de Vinci ( 1452- 1519) đi tiên phong trong ngành giải phẫu. Ông là một nhà bác học am hiểu nhiều môn: hóa, điêu khắc, âm nhạc, vật lý, tóan, thiên văn, địa chất, giải phẫu...đề ra phương pháp thực nghiệm của khoa học, đưa khoa học ra đẩy lùi mê tín dị đoan thời Trung cổ, đề cao giá trị con người. Ông đã mổ khỏang 30 tử thi, tả đường đi của tĩnh mạch, có nhiều tranh giải phẫu để lại mãi tới ngày nay.
- André Vésale ( 1514- 1564), người Bỉ, đã nêu lên những sai lầm của Galien. Năm 29 tuổi ông đã phát hiện hơn 200 điểm sai lầm trong sách của Galien. Vésale được coi là người cha của giải phẫu học hiện đại. Ông viết cuốn sách cấu trúc cơ thể ( Humani Corporis Fabrica) có giá trị.
* Phát triển phẫu thuật:
- Ambroise Paré ( 1510 - 1590), người Pháp, nhà phẫu thuật lớn thời kỳ này. Biết thắt động mạch khi chữa các nhóm động mạch, làm giảm đau khi mổ xẻ, điều trị bảo tồn, phẫu thuật chỉnh hình, làm chân tay giả, ông sáng chế ra nhiều dụng cụ mổ xẻ, trong điều trị chú ý điều trị toàn diện, trông nom cơ thể, chú ý tâm tư. Câu bất hủ của A. Paré:” Tôi băng bó và Thượng đế làm khỏi”.
Phẫu thuật tai mũi có Gaspard Tagliacozzi ( 1546-1599). Caire Roesslin ( 1513) cho xuất bản cuốn sách đầu tiên về sản khoa, Mercurie lần đầu tiên giới thiệu thủ thuật César. Mauriceau đạt nền móng kỹ thuật sản khoa ( ví dụ thủ thuật Mauriceau xoay chân thai. Chamberlin ( 1601-1683) sáng chế Forceps.
* Hóa học và Y học
- Paracelse ( 1493- 1541), sinh ở Thụy Sĩ, lang thang một thời gian dài ở châu Âu, thu lượm kiến thức chẳng những trong các trường Đại Học mà cả những người có kinh nghiệm và các phù thủy.
Ông đã kích quan điểm của Galien và Avicenne, coi thuyết nguyên tố là vô lý. Quan điểm của ông về chữa bệnh:
+ Phải quan sát.
+ Phải tìm hiểu nguyên nhân.
+ Phải tìm mọi biện pháp giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng.
Ông là người đầu tiên đưa những kết quả thí nghiệm hóa học và y học, sáng lập ra khoa khóang dược, điều chế thuốc có chứa Fe, S, Hg. Ông nói đến độc hại của các kim loại.
Về y hóa có Van Helmont ( 1577 - 1644) người Bỉ, đã nghiên cứu các chất khí, tìm ra CO2 , dịch vị và quá trình lên men.
* Vật lý và Y học :
- Descartes ( 1569 - 1656) là nhà khoa học và triết học Pháp. Về vật lý, ông cho thế giới vật chất vận động theo quy luật cơ học, là sự di chuyển của những hạt nhỏ vật chất: nguyên tử. Ông bác bỏ triết học duy tâm Trung cổ, phủ nhận uy quyền của giáo hội. Ông là nhà vật lý học và tóan học nổi tiếng thời đó.
Ông đã quan sát đến giải phẫu, sinh lý, mổ nhiều xác. Ông coi cơ thể như một lò xo, khi kích thích thì gây ra phản xạ. Cố gắng dùng vai trò cơ học để giải thích quá trình sống, chống lại quan điểm duy tâm của tôn giáo coi sự sống là thượng đế ban cho.
- Robert Boyle ( 1627-1691), người Anh, nghiên cứu về vật lý và hóa, có ảnh hưởng lớn đến y học, là người đầu tiên chứng minh không khí có trọng lượng và đề ra những quy luật giữa khối lượng và sức ép.
- Santorio ( 1561-1636), người Y, cho người vào một lồng treo trên một đầu cán cân để ghi những biến động về trọng lượng. Ông nghĩ ra một nhiệt kế đo thân nhiệt, một đồng hồ đo mạch ( tiền thân của mạch kế, huyết áp kế ngày nay).
- Bernandino Ramazzini ( 1633- 1714) là nhà lâm sàng học Ý, đã viết về các bệnh nhiễm độc, về vệ sinh cá nhân, về bệnh nghề nghiệp, về bệnh lý lao động.
- Borelli ( 1608-1679) coi cơ thể là một cái máy tuân theo những quy luật nhất định, ông đã trình bày sự co bóp của các cơ, tả ảnh hưởng của cơ liên sườn và cơ hoành trong hô hấp.
- Antoon Van Leauwenhoek ( 1632-1723) Hà Lan, sáng chế ra kính hiển vi đầu tiên với độ phóng đại 270 lần. Ông đã nhìn thấy roi trùng ( 1675) và tinh trùng ( 1677).
- Fracastor ( 1478-1553), người thầy thuốc Ý, người đi đầu về dịch tể học hiện đại. Người Ý gọi ông là người cha của bệnh học hiện đại. Ông đã bàn luận nguồn gốc của bệnh tật, mô tả bệnh sốt Rickettsia, nói về sự lây truyền của đậu mùa, sởi, dịch hạch, dại, giang mai, hủi, ghẻ...Ông cho nhiễm trùng là do những vật hết sức nhỏ mà giác quan ta không thấy được chứ không phải là do sự thối rữa.
- Thomas Sydenham ( 1624-1689), người Anh, mô tả tỉ mỉ bệnh đậu mùa, tinh hồng nhiệt. Về thuốc, ông thích nhất là thuốc phiện, chứng vũ Saint Gay tên là múa giật Sydenham.
- Leopold Anenbrugger ( 1722-1809) ở Vienne, đề ra phương pháp gõ. Ông tả tiếng gõ bình thường, khi có nước trong màng phổi, có nước màng tim và tim phì đại.
- Malpighi (1628- 1694), người Ý, nổi tiếng về nghiên cứu tuần hoàn máu ở mao mạch, xây dựng ngành bào thai học ( cùng Harvey), tả các lớp trong da, hạch bạch huyết, niệu cầu thận.
- Jean Pecquet ( 1622- 1674) người Pháp, đã tìm ra ống ngực, ống này mang bạch huyết và tĩnh mạch chủ trên.
IV. Y HỌC VIỆT NAM TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN
Sau chiến thắng Bạch Đằng ( 938), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước hơn 1000 năm, mở ra thời kỳ phát triển của quốc gia phong kiến độc lập và thống nhất.
Các triều Ngô- Đinh - Tiền - Lê ( 939- 1009) tình hình y học không có tài liệu ghi chép.
* Đời nhà Lý: ( 1010- 1224) có nhiều thầy thuốc.
- Có Ty Thái Y, Ngự Y chữa bệnh cho nhà Vua.
- Còn chữa bệnh bằng phù chú ( nhà sư Từ Đạo Hạnh, Sơn Tây), Minh Không thiền sư chữa bệnh cho Lý Thần Tông bằng cách dùng lối nói tác động tinh thần.
- 1070 Trường Đại Học đầu tiên ở Việt Nam có dạy kiến thức ngành Y.
* Đời nhà Trần: Y học có điều kiện phát triển do có phong trào chống mê tín dị đoan ( Trương Hán Siêu và Chu văn An đề xướng).
- Nâng Ty Thái Y lên Viện Thái Y, trông nom sức khỏe cho vua quan.
- Mở khoa thi để tuyển dụng Lương y cho Ty Thái y.
- Để chống nhà Nguyên, có kế hoạch chuẩn bị thuốc men để kháng chiến: Trồng thuốc nam để tự túc thuốc ( Đông Triều, Chí Linh) góp phần bảo vệ sức khỏe của nhân dân chiến thắng quân Nguyên ( 1288).
- 1362 Vua Trần Dụ Tông tổ chức trồng thuốc nam ở sông Tô Lịch, ý thức trồng thuốc nam đã bắt nguồn từ đấy. Đồng thời chữa bệnh bằng châm cứu.
- Trần Canh: Dùng châm cứu chữa Trần Dụ Tông lúc nhỏ bị chết đuối sống lại.
- Phạm Công Bân giữ chức Ngự Y triều Trần Anh Tông ( 1293-1313). Ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho vua, còn chữa bệnh cho dân nghèo. Ông không phân biệt sang hèn, bệnh nguy thì ông chữa trước.
- Chu văn An ( 1292 - 1370) đậu Thái học sinh năm 1304, từ bỏ chức tư nghiệp trường Quốc Tử Giám 1341 về ẩn cư ở Chí Linh, Hải Hưng chuyên dạy học, viết sách vè nghiên cứu ngành Y. Biện soạn cuốn “ Y học yếu giải tập chú di biên” gồm lý luận cơ bản, chẩn đoán, trị bệnh, và một số phương thuốc.
- Nguyễn Bá Tĩnh ( thế kỷ XIV) đi tu, lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Ông soạn:
Bộ “ Nam dược thần hiệu” một trong những bộ sách y dược sớm nhất của ta, 11 quyển gồm 580 vị thuốc, 3879 phương thuốc dân tộc trị 184 loại bệnh chia làm 10 khoa.
Bộ “ Hồng nghĩa giáo tư “ 2 quyển thơ Nôm nói về lý luận Đông Y, dược học dân tộc và biện chứng luận trị. Tuệ Tĩnh đã đề ra phương pháp luận trị là:
“ Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, thanh tâm, quả dục, thủ, chân, luyện hình.”
Ông đề ra phương châm “ Thuốc Nam chữa người Nam “, tổ chức trồng thuốc, kiếm thuốc, phổ biến cách phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, dùng phương pháp đơn giản như xông hơ, xoa bóp, châm cứu.
* Đời nhà Hồ:
Mở rộng chữa bệnh cho nhân dân bằng cách châm cứu, tổ chức các Y Ty ở các Trấn, Tỉnh để chữa bệnh cho quan lại và nhân dân.
Nguyễn Đại Năng ở Hải Hưng biên soạn cuốn” Châm cứu tiếp hiệu diễn ca” bằng thơ Nôm.
* Đời nhà Lê:
Có luật Hồng Đức đặt quy chế nghề Y, trừng phạt những thầy thuốc vụ lợi, cố tình chữa bệnh dây dưa, cấm bán thịt thối thiu, quy chế pháp y khi khám án mạng, tử thi..., cấm phá thai, chống tảo hôn. Phát hành sách “Bảo sinh diên thọ toản yếu” để truyền bá phương pháp vệ sinh, hô hấp, vận động cho nhân ân. Có Thái Y Viện ở Trung ương, có kho thuốc dự trữ ở các Tỉnh. Ở các Huyện có những nơi bảo dưỡng người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi... Có chống dịch ( vua trưng dụng các thầy thuốc), phát triển trồng thuốc Nam. Mở khoa thi Y Khoa, xây dựng Y miếu Thăng Long và khuyến khích phát triển y học.
Danh y có:
- Phan Phú Tiên đậu Thái học sinh năm 1396 ông đã biên soạn cuốn “ Bản thảo thực vật toản yếu” ( 1429) gồm 392 vị thuốc Nam dùng làm thức ăn để phòng bệnh, trị bệnh, chủ trương tiết chế, dinh dưỡng.
- Nguyễn Trực: ( 1416-1473) biên soạn cuốn” Bảo anh lương phương” về nhi khoa, xoa bóp.
- Lê Hữu Trác: ( Hãi Thượng Lãn Ông) 1791 ở Hải Hưng, không ở trong quân đội Trịnh, bỏ về nghiên cứu nghề thuốc. Ông ghi chép bệnh án kỹ lưỡng, đối chiếu biến đổi thời tiết khi hậu với cơ thể người bệnh. Quan tâm đến đạo đức của người thầy thuốc, hết lòng vì người bệnh. Ông soạn” Hãi Thượng y tông tâm lĩnh” 28 tập, 86 quyển y đức, vệ sinh phòng bệnh, chẩn đoán, mạch học, biện chứng luận trị bệnh học, dược học, bệnh án về nội ngoại, phụ, nhi, chấn thương, cấp cứu. Phát hiện thêm 300 vị thuốc nam, tổng hợp thêm 2854 phương thuốc dân tộc. Đề cao phương pháp dưỡng sinh ( xưa gọi là nhiếp sinh), khuyên nên hạn chế sinh đẻ. Ông biên soạn 2 tập” Dương án “ kể lại một bệnh án khó nhưng chữa khỏi và “ Âm án “ trình bày 12 trường hợp bệnh khó chữa không khỏi mặc dầu đã hết lòng chữa chạy. Ông soạn tập “ Hành giản trân nhu” tổng hợp khỏang 2200 đơn thuốc kinh nghiệm gia truyền chữa 126 loại bệnh khác nhau.
Các tài liệu y học của Lãn Ông vừa có tính lý luận cao, vừa có giá trị thực tiễn, tiêu biểu cho nền y học cổ truyền Việt nam.
* Triều Tây Sơn ( 1788-1802): Duy trì tổ chức Thái Y Viện, tổ chức Nam dược Cục, mở rộng nghiên cứu thuốc nam.
- Nguyễn Gia Phan: ( 1748-1847) sau 12 năm công tác ở Thái y Viện về nhà làm thuốc, tổ chức cứu sống rất nhiều người trong 2 vụ dịch lớn năm 1789 - 1791.
Năm 1792 vua Quang Trung triệu vào Phú Xuân làm việc ở Thái Y Viện, phụ trách đi chống dịch ở các địa phương, ông đúc kết các kinh nghiệm trong các tác phẩm:
“ Liệu dịch phương pháp toàn tập” nói về bệnh thời khí, ôn dịch chuớng khí ( sốt rét), nói tác hại môi trường bẩn, đề ra phương pháp vệ sinh.
“ Hộ sinh phương pháp tổng lực” về nhi khoa.
“ Lý âm phương pháp thông lục” về phụ khoa.






