1. Chẩn đoán:
1.1. Lâm sàng:
Trẻ bụ bẫm, <12 tháng, có các triệu chứng:
* Cơ năng:
- Khóc thét từng cơn, ưỡn người bỏ bú* Toàn thân:
- Nôn, chất nôn: sữa vừa bú vào.
- Ỉa máu: chất nhầy, lẫn máu (xem tã lúc khám)
- Hết cơn đau trẻ nằm yên, bú vào đau lại ngay...
- Đến sớm: tình trạng ít thay đổi, dáng mệt mỏi* Thực thể:
- Muộn: dấu hiệu mất nước (thóp lủng, môi khô...), mệt lả, có thể có khó thở nhẹ (nhiễm trùng hô hấp)
- Hố chậu phải rỗng (khi đến sớm)
- Khối lồng: khối tròn-dài, di động sờ thấy ở trên rốn hay cạnh rốn, ấn vào →trẻ ưỡn khóc.
- Thăm trực tràng: có chất nhầy máu theo tay.
1.2. Cận lâm sàng:
- Chụp khung đại tràng có barit: hiện ít dùng mà thay bằng bơm hơi, vừa để chẩn doán vừa để tháo lồng ngay. Dấu hiệu Xquang nếu bơm barit: Hình càng cua, đáy chén hay hình đồng tâm (hình bia bắn)
- Siêu âm: Kết hợp bơm nước muối sinh lý vào đại tràng sẽ thấy hình ảnh búi lồng gần như khi bơm barit. Cũng có thể tháo lồng ngay bằng sức đẩy của nước dưới siêu âm.
1.3. Chẩn đoán xác định lồng ruột theo công thức của Fèvres:
- Đau bụng cơn + khối lồng (Lồng ruột)
- Đau bụng cơn + Nôn + ỉa máu
- Đau bụng cơn + Hình ảnh Xquang của lồng ruột
1.4. Chẩn đoán phân biệt:
* Khi chưa có ỉa máu:
- Với viêm đường hô hấp trên: khóc cơn, nôn, sốt, khó thở nhẹ...* Khi đã ỉa ra máu:
- Chú ý: Cần nghĩ đến lồng ruột để đi tìm và để không bỏ sót.
- Với viêm dạ dày ruột cấp, kiết lỵ...(ít thấy ở trẻ <12 tháng)* Khi thấy khối lồng:
- Có thể nhầm với búi giun đũa (rất hiếm)
2. Chỉ định điều trị:
2.1. Nguyên tắc chung:
- Điều trị (mổ hoặc không mổ) càng sớm càng tốt
- Trẻ đến sớm (<12 tiếng): toàn thân tốt, bụng không quá chướng thì →tháo lồng mổ.
- Đến muộn: (>12 tiếng): Bụng chướng, nghi hoại tử ruột → Mổ tháo lồng.
- Sau mổ hoặc làm thủ thuật tháo lồng, phải theo dõi BN chặt chẽ, đặc biệt các dấu hiệu của lồng ruột đã được tháo.
2.2. Các phương pháp điều trị:
* Tháo lồng không mổ: Khi bệnh nhân đến sớm (<12 tiếng)
- Bơm hơi vào đại tràng:
+ Phương pháp hở: áp lực bơm tối đa chỉ đạt đến mức 50-60mmHg nên tỷ lệ tháo được lồng không cao.
+ Phương pháp kín: Dùng ống sonde Pouliquen hay ống NKQ to (cỡ số 9). Máy tháo lồng áp lực tối đa 100mmHg + van an toàn. Có thể theo dõi quá trình tháo lồng dưới màn huỳnh quang tăng sáng hoặc chỉ dựa vào lâm sàng.
+ Chứng nghiệm tháo lồng dựa vào lâm sàng:
- Bụng chướng lệch rồi →chướng đều, do hơi sang ruột non.
- Tiếng réo khi hơi sang ruột non +++
- Không sờ thấy búi lồng nữa
- Áp lực cột đồng hồ đo tụt đột ngột đồng thời với bụng chướng đều và khi tiếp tục bơm hơi thì áp lực không tăng.
Bơm nước vào đại tràng và tháo lồng dưới siêu âm: Giống như tháo lồng bằng barit hay hơi. Hiện nay ít dùng barit để tháo lồng.+ Dựa vào Xquang (Chụp bụng không chuẩn bị): Hình ảnh hơi sang ruột non thành các kén hơi.
+ Dựa vào uống than hoạt: ỉa phân có màu đen
* Mổ tháo lồng: Khi BN đến muộn (>24 tiếng):
- Gây mê NKQ, mở đường giữa trên rốn
- Tháo lồng bằng tay: bóp đẩy ngược chiều để đẩy búi lồng tụt ngược trở lại, không được kéo. Động tác đẩy nhẹ nhàng và từ từ. Có thể dùng ngón tay út để nong nhẹ cổ búi lồng...Đắp huyết thanh sau khi ruột đã được tháo lồng. Ruột hồng tốt là được, khâu thanh mạc nếu bị rạn nứt.
- Chỉ định cắt ruột khi búi lồng chặt không tháo được hoặc ruột bị hoại từ. Có thể nối ngay hay đưa 2 đầu ruột ra ngoài là tuỳ vào tình trạng ruột nối./.










