Hoàng Văn Bách, Nguyễn Quốc Kính, Công Quyết Thắng
ĐẶT VẤN ĐỀ:
TCI-Propofol là một kỹ thuật gây mê mới, dựa trên mô hình dược động học của Marsh hoặc Schnider, trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng bơm tiêm điện Diprifusor dựa trên mô hình của Marsh. Gây mê theo nồng độ đích tại nơi tác động là não (Ce), mức độ an thần phụ thuộc vào Ce.
Lâm sàng chúng tôi dựa vào bảng điểm OAAS (Observer’s Assessment of Alertness/Sedation) để đánh giá mức độ an thần: OAAS5: Tỉnh hoàn toàn, đáp ứng ngay khi gọi tên bằng giọng bình thường; OAAS4: Đáp ứng chậm, mơ hồ khi gọi tên bằng giọng bình thường; OAAS3: Chỉ đáp ứng khi gọi tên to hoặc gọi nhắc lại; OAAS2: Chỉ đáp ứng khi gọi tên to và lay nhẹ; OAAS1: Không đáp ứng khi gọi tên to và lay nhẹ.
Entropy monitor (G.E) cũng được đưa vào để theo dõi độ mê, Entropy là sóng điện não và điện của các cơ vùng mặt được tích hợp số hoá thành 2 chỉ số RE và SE; RE là chỉ số hoạt động của các cơ vùng mặt, có giá trị: 0 - 100 ; SE là chỉ số hoạt động của vỏ não, có giá trị: 0 – 91. Giá trị của Entropy: khi tỉnh: 100-85; an thần: (84-65); khi gây mê đủ sâu: (64-40) và mê sâu mất hoàn toàn điện não: Entropy = 0.
Nghiên cứu của chúng tôi trong giai đoạn khởi mê bằng kỹ thuật TCI truyền tĩnh mạch propofol từ lúc bệnh nhân tỉnh cho đến khi mất đáp ứng bằng gọi tên dựa trên đánh giá OAAS và theo dõi độ mê Entropy nhằm mục tiêu
1/ Đánh giá chỉ số Entropy, Ce và thay đổi về huyết động trong giai đoạn khởi mê
2/ Liên quan giữa các chỉ số OAAS, Entropy và Ce
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu tiến cứu, quan sát phân tích
Đối tượng: 21 bệnh nhân, tuổi: (18 - 85), ASA: (I-II), mổ có chuẩn bị, thuộc các chuyên khoa: Tiêu hoá, tiết niệu, phụ khoa, tai mũi họng.
Cách tiến hành: Tiền mê hypnovel 0,03mg/kg khi bệnh nhân đến phòng mổ, 15 phút sau tiến hành khởi mê propofol (Diprivan PFS) với kỹ thuật TCI, đặt nồng độ máu đích: 4µg/ml, sau khi độ an thần đạt đến OAAS1 thì tiêm Fentanyl 2µg/kg, Esmeron 0,6mg/kg đặt NKQ và duy trì mê. Các thông số RE, SE, Ce, nhịp tim, SpO2 được theo dõi và ghi lại tại các thời điểm từ OAAS5 đến OAAS1, riêng HAĐMTB đo 1 phút/lần. Sau mổ hỏi bệnh nhân xem có hiện tượng thức tỉnh trong lúc khởi mê không?
Các số liệu được xử lý thống kê theo SPSS 13.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tuổi: 49,19±18,88; Cân nặng: 52,3±6,8 kg, Propofol: 63,9 ±27,4 mg; Ce: 2,78±1,07µg/ml; HAĐMTB giảm trong thời gian khởi mê: 7,57±5,55 mmHg; Thời gian bơm thuốc: 15,3±4,2 giây; Thời gian đạt độ mê OAAS1: 112,7±32,6 giây; không có sự thức tỉnh trong giai đoạn khởi mê.






